Banner

BÁO CÁO

Đăng lúc: Thứ năm - 16/02/2017 09:32 - Người đăng bài viết: Quản trị viên
Kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng
ĐẢNG BỘ HUYỆN NĂM CĂN              ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHI BỘ HỘI CHỮ THẬP ĐỎ                    
                   *
          Số 08-BC/CB                Năm Căn, ngày 09 tháng 02 năm 2017
      
                                                    BÁO CÁO
            Kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng
                                                          
        Thực hiện Kế hoach số 29-KH/HU, ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Thường vụ Huyện ủy Năm Căn tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương của Đảng (khóa XII); Chi bộ báo cáo kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) như sau:
         I- Tình hình cán bộ, đảng viên tham gia học tập, quán triệt Nghị quyết TW4
        1-  Số cán bộ, đảng viên thuộc Chi bộ là 11 đ/c; trong đó:
          - Hội Chữ thập đỏ 04 đ/c;
          - Hội Đông y 03 đ/c;
          - Phòng Y tế 04 đ/c.
          2- Số cán bộ, đảng viên thuộc Chi bộ tham gia học tập, quán triệt Nghị quyết là 11 đ/c, đạt tỷ lệ 100%; trong đó:
           - Cán bộ chủ chốt 05 đ/c (Hội Chữ thập đỏ 02, Hội Đông y 01, Phòng Y tế 02);
           - Đảng viên 06 đ/c (Hội Chữ thập đỏ 02, Hội Đông y 02, Phòng Y tế 02).
          3- Số cán bộ, đảng viên thuộc Chi bộ đã viết bài thu hoạch là 11 đ/c, đạt tỷ lệ 100%; trong đó:
           - Cán bộ chủ chốt 05 đ/c (Hội Chữ thập đỏ 02, Hội Đông y 01, Phòng Y tế 02);
           - Đảng viên 06 đ/c (Hội Chữ thập đỏ 02, Hội Đông y 02, Phòng Y tế 02).
          II- Nội dung học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị TW4 (khóa XII)
          1- Chuyên đề 1: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30 tháng 10 năm 2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
          2- Chuyên đề 2: Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 01 tháng 11 năm 2016 về một số chủ trương chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
          3- Chuyên đề 3: Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05 tháng 11 năm 2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
         4- Chuyên đề 4: Kết luận số 09-KL/TW, ngày 19 tháng 10 năm 2016 về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2016; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017.
          III- Tổng hợp về nội dung thu hoạch của cán bộ, đảng viên
          1- Nhận thức những vấn đề cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII
         1.1- Nghị quyết số 04-NQ/TW (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
         - Trung ương đánh giá một cách tổng thể quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng hơn 86 năm qua, Đảng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Việc thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn không ít những hạn chế khuyết điểm, một số việc chưa đạt được mục tiêu cần đề ra; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi... dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường... Từ đó, làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
         - Từ những nhận diện:
          + 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận; không chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng, sa sút ý chí phấn đấu; trong tự phê bình còn giấu giếm, không nhận khuyết điểm; nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình, không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến; tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình, tranh thủ bổ nhiệm người thân, quen, người nhà.
          + 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống: Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm; quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, thờ ơ, vô cảm; quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cấu kết để trục lợi; thao túng trong công tác cán bộ, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp; đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín, dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia tổ chức tôn giáo bất hợp pháp.
         + 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ: Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng; phản bác, phủ nhận nền dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN; nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối nội bộ, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập chống phá Đảng, Nhà nước; đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo trí, văn học, nghệ thuật; có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, dân tộc, tôn giáo.
         - Trước tình hình đó Trung ương khẳng định việc ban hành Nghị quyết xuất phát từ yêu cầu của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng với mục tiêu là: Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng
          - Về quan điểm thực hiện là nhìn thẳng vào sự thật, nêu rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp giữa “Xây” và “Chống”; “Xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “Chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cả nhân dân; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng; giữ vững nguyên tắc, kỷ luật kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.
           - Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XII đã đề ra 10 giải pháp cơ bản thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng; trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp:
           + Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình với 10 nội dung: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác – lê nin, tư tưởng HCM, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05-CT/TW khóa XII; tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận gắn với thực tiễn; xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức; hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động, xuất bản, Internet, mạng xã hội; chủ động chuẩn bị phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo kiểm tra khắc phục tình trạng quan liêu; hàng năm khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, diều động công tác đối với cán bộ phải chú ý đến chương trình hành động, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao...
            + Về cơ chế chính sách với 6 nội dung: Các cấp ủy, tổ chức Đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát; chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành đảm bảo công khai, minh bạch; kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ; đẩy mạnh xã hội hóa, tách cung ứng dịch vụ và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; hoàn thiện quy dịnh về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
            + Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng với 8 nội dung: Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các Nghị quyết, kết luận của Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng; tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của cơ quan thanh tra; siết chặt kỷ luât, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
             + Về phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội với 5 nội dung: Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm quy chế giám sát và phản biện xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tăng cường công tác dân vận của Đảng và chính quyền, phát huy vai trò giám sát của MTTQ và các đoàn thể; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; người đứng đầu cấp ủy chính quyền các cấp phải nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ; xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
           1.2- Nghị quyết số 05-NQ/TW (khóa XII) về một số chủ trương chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
            - Trên cơ sở nhận định tình hình Trung ương đánh giá: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức độ hợp lý, mô hình tăng trưởng từng bước chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh quốc gia được cải thiện, cán cân nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ có bước phát triển, kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, quan tâm đầu tư; cơ cấu lại thị trường tài chính đạt kết quả bước đầu không để xảy ra tình trạng đổ vỡ, mất an toàn hệ thống, nợ xấu và các ngân hàng yếu kém từng bước được xử lý, quản trị doanh nghiệp nhà nước và quản lý vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục được hoàn thiện, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, vốn đầu tư được bảo toàn và phát triển, hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, hạn chế đầu tư dàn trải; khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, phương thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới, sản suất nông nghiệp từng bước được phục hồi, giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, hội nhập kinh tế quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả tích cực, hoàn thành việc đàm phán, ký kết hiệp định thương mại tự do.
            + Tuy nhiên, những mặt hạn chế là mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm đổi mới, tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa vào tăng năng suất lao động, áp dụng khoa học – công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng thấp; kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc, bội chi ngân sách còn lớn, nợ công tăng nhanh, nợ chính phủ đã vượt trần cho phép, áp lực trả nợ lớn. Việc thực hiện 3 đột phá chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được cải thiện, môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều trở ngại; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại còn khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Cơ cấu lại nền kinh tế triển khai còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa thực sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Cơ cấu lại nông nghiệp chưa thật sự gắn với xây dựng nông thôn mới. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa thực chất, hiệu quả thấp. Cơ chế chính sách điều phối phát triển vùng chưa đủ mạnh, thiếu tính liên kết, chưa phát huy được các lợi thế cạnh tranh từng địa phương và toàn vùng.
            + Nguyên nhân của những hạn chế đó là nhận thức và tầm nhìn của cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đầy đủ, có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ. Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế ở các cấp, ngành, địa phương còn thụ động, chậm trể. Đột phá về thể chế, phân bổ và sử dụng nguồn lực cho phát triển còn bất cập. Đổi mới hoàn thiện bên trong và hội nhập bên ngoài chưa được tiến hành đồng bộ.
            - Từ nhận định, đánh giá trên Trung ương đưa ra quan điểm, định hướng mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng là:
             + Quan điểm (4): Đổi mới mô hình tăng trưởng để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường; đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện 3 đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
           + Mục tiêu (5): Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016-2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55%, tốc độ tăng trưởng năng suất lao động; tỷ trọng lao động qua đào tạo tăng lên khoảng 25%, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%; năng suất các nhân tố tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 khoảng 30-35%, thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.
           - Một số chủ trương chính sách lớn:
             + Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành nền kinh kế vĩ mô.
           + Tiếp tục thực hiện 3 đột phá chiến lược: Hoàn thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.
            + Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là nhân tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
            + Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm: Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính, đầu tư, sự nghiệp công lập, nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, các ngành công nghiệp, phát triển nhanh các ngành dịch vụ.
             + Phát triển khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế.
             + Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng, thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hóa.
             + Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh
             + Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.
         1.3- Nghị quyết số 06-NQ/TW (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
            - Trung ương đánh giá: Hội nhập quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh quốc gia, thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quy mô thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế được nâng lên, tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động, đội ngũ doanh nhân có bước trưởng thành đáng kể; hội nhập quốc tế đã có những đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ quốc tế của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu tạo thể đan xen lợi ích góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy nhiên, những hạn chế, yếu kém còn bộc lộ đó là: Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và hội nhập quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, hội nhập quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện, ngắn hạn và cục bộ, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức; quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới (thể chế, cơ chế, chính sách) chưa được thực hiện đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu đảm bảo quốc phòng – an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ hiệu quả với hội nhập trong các lĩnh vực khác, chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược lâu dài với đối tác, việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.
             - Về nguyên nhân Trung ương nhận định:
             + Sự thành công là do sự đổi mới tư duy của Đảng và lợi ích quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa thay đổi cục diện khu vực và thế giới, Đảng đã nhận thức đúng tính tất yếu của xu thế hội nhập, hội nhập là định hướng chiến lược để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; quá trình thể chế hóa quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế thành chính sách, chiến lược, kế hoạch được thực hiện khá đồng bộ và kịp thời; nổ lực của các bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, sự chủ động tích cực của các doanh nghiệp và người dân trong việc tranh thủ các cơ hội từ cải cách và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
              + Sự yếu kém của hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện trong quan điểm chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc của Đảng chưa được quán triệt sâu rộng và tuân thủ nghiêm túc, triệt để trong quá trình hội nhập; chưa nhận thức đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ, giữa cái “được” và cái “mất” trước mắt cũng như lâu dài; triển khai chính sách, chiến lược, kế hoạch liên quan đến hội nhập chưa đồng bộ, chưa thúc đẩy được sự tham gia đông đảo của tổ chức, doanh nghiệp, người dân, các giải pháp triển khai chưa kịp thời, hiệu quả; quá trình đổi mới ở bên trong và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với bên ngoài chưa được tiến hành đồng bộ, tranh thủ quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế chưa kịp thời; năng lực của cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế vẫn còn hạn chế, chưa tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến cũng như chưa tự giác nâng cao trình độ quản lý, chưa phấn đấu đạt chuẩn quốc tế để thích ứng với môi trường hội nhập.
            - Trên cơ sở đánh giá tình hình, xác định nguyên nhân Trung ương đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo là:
            + Mục tiêu: Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo toàn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
            + Quan điểm: Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập, vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế, hội nhập trong các lĩnh vực phải tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và coi hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu; đảm bảo đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh, giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện các cam kết; đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội.
             - Các chủ trương, chính sách lớn để thực hiện
             + Chủ trương chính sách chung là: Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng nền kinh tế có tự chủ cao, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế; thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, gia tăng xuất khẩu số lượng và chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục thực hiện 3 đột phá chiến lược tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển bền vững, thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giữ vững ổn định chính trị và thực thi các cam kết quốc tế; tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách phòng vệ thương mại, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế, có chính sách phù hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh thấp để vươn lên, tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, trình độ pháp luật quốc tế.
             + Chủ trương chính sách cụ thể là: Tăng cường công tác tư tưởng, năng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, có cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực thực thi pháp luật và hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện 3 đột phá chiến lược, đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành và lĩnh vực kinh tế, xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển khu kinh tế, thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách, giải pháp phát triển nguồn lực; tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tăng cường quốc phòng, an ninh; nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế; bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc; giải quyết tốt các vấn đề xã hội; các vấn đề môi trường; đổi mới tổ chức hoạt động của các tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời hoạt động của các tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp.
            1.4- Kết luận số 09-KL/TW (khóa XII) về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2016; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2017.
             - Về tình hình kinh tế xã hội năm 2016: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế ước đạt 6,2 – 6,5%; thực hiện 3 đột phá chiến lược; cơ cấu lại nền kinh tế đạt được một số kết quả; văn hóa, xã hội có tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đã quan tâm; thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, tập trung ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và quyết liệt xử lý sự cố môi trường biển. Chú trọng hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với kế hoạch đề ra, thu ngân sách nhà nước gặp khó khăn, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, nợ công cao, áp lực trả nợ lớn, cơ cấu lại nhiều ngành, lĩnh vực còn chậm; xử lý nợ xấu và tổ chức tín dụng chưa căn bản và triệt để, cơ cấu lại doanh nghiệp chưa đạt kế hoạch, tỷ lệ vốn cổ phần hóa thấp, một số dự án đầu tư lớn của doanh nghiệp nhà nước chậm tiến độ, hiệu quả thấp; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, chất lượng môi trường nhiều nơi bị xuống cấp, vi phạm môi trường còn xảy ra gây bức xúc xã hội, chất lượng giáo dục, y tế cải thiện chậm, thất nghiệp, thiếu việc làm đang là vấn đề bức xúc, tệ nạn xã hội, vi phạm về môi trường, an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông và tội phạm gian lận thương mại còn diễn biến phứt tạp; kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội chưa nghiêm; tình trạng tham nhũng, lãng phí, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều khó khăn thách thức.
             - Trên cơ sở đánh giá về kinh tế xã hội năm 2016 và nhận định tình hình năm 2017, Trung ương xác định mục tiêu tổng quát năm 2017 là: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội; tạo sự chuyển biến rõ rệt trong thực hiện 3 đột phá chiến lược (Hoàn thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN: tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước); cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, chống thiên tai; tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường Quốc tế.
               - Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện (9)
              (1) Ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối của nền kinh tế.
              (2) Tạo sự chuyển biến rõ nét về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực canh tranh.
              (3) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
              (4) Phát triển văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tin thần của nhân dân.
              (5) Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng ngừa thiên tai, bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên.
              (6) Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương.
              (7) Triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
              (8) Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông.
              (9) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính ngân sách, từng bước cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cơ cấu lại nợ công.
              2- Liên hệ thực tiễn ở chi bộ, cơ quan, đơn vị đều thống nhất nhận định
             2.1- Chi bộ thường xuyên coi trọng lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng; quán triệt thực hiện chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, địa phương tạo sự nhận thức đúng đắn của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cơ quan đơn vị để hành động, thực hiện đúng.
              2.2- Tổ chức bộ máy của chi bộ, cơ quan, đơn vị luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn trên cơ sở thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện tinh giản biên chế tạo sự ổn định đáp ứng yêu cầu thực hiện Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức theo chức danh nghề nghiệp.
              2.3- Công tác quản lý cán bộ đảng viên được tăng cường làm gắn việc phân công nhiệm vụ, đánh giá kết quả thực hiện với tự phê bình và phê bình hàng năm; đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đảng viên với việc thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý chi bộ, cơ quan, đơn vị.
               2.4- Công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, hàng năm cơ quan (Phòng Y tế), đơn vị (Hội Chữ thập đỏ, Hội Đông y) luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
              2.5- Công tác lãnh đạo đoàn thể đã phát huy được vai trò của tổ chức công đoàn, tập hợp được sức mạnh của tập thể, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên tham gia xây dựng chi bộ, cơ quan, đơn vị, tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua, thực hiện Quy chế dân chủ trong các hoạt động.
Tuy nhiên, công tác củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy của cơ quan, đơn vị tiến hành còn chậm do công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn bị động (thiếu biên chế ở Phòng Y tế, chưa có chức danh Chủ tịch Hội Đông y).
               3- Đề xuất, kiến nghị, giải pháp thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XII)
              3.1- Thường xuyên quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện 10 nhiệm vụ về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra và triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
               3.2- Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về một số nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
              3.3- Xây dựng tổ chức bộ máy cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn thể của hệ thống chính trị xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ đồng bộ với thực hiện chính sách cán bộ.
               3.4- Cơ quan, đơn vị xây dụng kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; định kỳ sơ kết, tổng kết thực hiện hàng năm.
               3.5- Cán bộ, đảng viên, đoàn viên xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hàng năm.

               Trên đây là báo cáo của Chi bộ Hội Chữ thập đỏ về kết quả học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
 
Nơi nhận:                                  T/M BAN CHI ỦY
- Huyện ủy;                                       BÍ THƯ
- Ban Tuyên giáo Huyện ủy;
- Lưu Chi bộ.                                                                         
                                                           (đã ký)                          
                                                                                                  
                                                                                    
                                                Nguyễn Quang Sơn
Tác giả bài viết: Nguyễn Quang Sơn
Nguồn tin: Bích Thuận
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
xemtivi
ubndnamcan

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 159
  • Tháng hiện tại: 113227
  • Tổng lượt truy cập: 2220627